Trở lại   Học tiếng Trung | Du học Trung Quốc » HỌC TIẾNG VIỆT » Văn Hóa Đông Phương » Cầm Kỳ Thi Hoạ » Thơ Đường Luật

Thơ Đường Luật Thơ Đường Luật




Thi pháp thơ đường (Quách Tấn )

Thơ Đường Luật


Trả lời
 
Ðiều Chỉnh
Old 10-03-2009, 10:51 PM
  post #1
banglado
Dtt Member
 
ID: 15852
Tham gia: 22-02-2009
Giới tính: Hiden
Bài gởi: 77
Cảm ơn: 46
Được cảm ơn: 66 lần trong 39 bài viết
Default Thi pháp thơ đường (Quách Tấn )


THI PHÁP THƠ ÐƯỜNG



» Tác giả: [Link đã ẩn, đăng nhập để được xem link. Hoặc click vào đây để đăng ký...]


1. THI PHÁP THƠ ÐƯỜNG

[Link đã ẩn, đăng nhập để được xem link. Hoặc click vào đây để đăng ký...]Quách TấnQUÁCH TẤN




Bức Thư thứ Ba



Thi luật xuất phát từ đời nhà Ðường bên Trung Quốc cho nên gọi là đường luật.



Ðường Luật không phải do một cá nhân hay một nhóm thi nhân cao hứng đặt ra theo sở kiến, sở thích của mình, mà chính là sự đúc kết những kinh nghiệm kỹ thuật lâu đời đã thành công, và điển chế những thành công ấy làm khuôn phép chung cho làng thơ ....

Thật như vậy: từ đời Xuân Thu đến đời nhà Ðường, trên 1000năm, thơ Trung Quốc lần lần biến chuyển từ giản dị đến phức tạp, từ tự do đến câu thúc. Thơ trong bộ Kinh Thi do Khổng Phu Tử san định thời Xuân Thu (722- 479) trước Kỷ nguyên Thiên Chúa, số câu trong mỗi thiên, số chữ trong mỗi câu, đều không nhất định, cách hạ vần cũng tùy nghi. Ðến đời Tấn (265-420), thơ mới bắt đầu khép vào khuôn là mỗi câu 5 chữ, nhưng số câu thì dài ngắn tùy hứng tùy thích của thi nhân. Sang đời Lục Triều (420- 621), thi nhân lại tìm thêm một khuôn nữa là mỗi câu 7 chữ. Thời ấy văn học lại xu hướng thể biền ngẫu . Thẩm Ước lại xướng thiết tứ thanh, bát thể (bát bệnh) đem áp dụng vào thơ ngũ ngôn. Từ ấy, thi nhân phải theo những quy tắc về âm thanh về đối ngẫu; nhưng quy tắc không mấy chặt chẽ, ngòi bút vẫn tung hoành được tự do. Thi sĩ đời Ðường (618-907) phát huy phép đối ngẫu và thuyết thanh bệnh của Thẩm Ước. Âm vận và cách luật được giảng cầu tinh tường : Thi Luật được sáng chế và được phần đông thi nhân hoan nghênh. Người có công lớn trong việc chỉnh đốn Thi Luật là Tống Chi vấn và Thẩm Thuyên Kỳ thời Sơ Ðường . Rồi từ đời Ðường đến đời Thanh (1616- 1911), trên 1.000 năm, thể thơ Ðường luật rất được phần đông thi nhân ưa chuộng.



Nước Việt Nam chúng ta có thơ từ nghìn xưa . Và thể thơ thông dụng nhất lá thể Lục Bát và Thể Vè 3, 4 và 5 chữ giản dị và tự do . Mãi đến đời nhà Trần (1225-1400), Hàn Thuyên mới dùng thể Ðường luật để làm thơ Nôm. Thi nhân đương thời nhiệt liệt hưởng ứng và từ đời Trần, sang đời Lê đến đời Nguyễn, thể Ðường luật được thịnh hành trong làng thơ Quốc âm, cũng như trong làng thơ chữ Hán và trong trường khoa củ . Thơ quốc âm, cũng như trong làng thơ chữ Hán và trong trường khoa cử . Thơ quốc âm làm theo thể Ðường luật, cổ nhân gọi là thơ Hàn Luật .

Và để phân biệt với thơ có trước đời Ðường, thơ Cổ Thể, người ta gọi thơ làm theo thể Ðường luật là thơ Cận Thể .

Quy tắc thơ Cận Thể rất tinh mật . Muốn sử dụng thể Ðường luật được hữu hiệu, tưởng chúng ta nên biết rõ mọi chi tiết, ít nhất là phải rành những điểm cốt yếu, về chương pháp, về cú pháp, về hài ngẫu, thanh điệu...



Chương pháp là phép tắc trong toàn bài .

Như trên đã nói, phép tắc thơ Cận Thể, tức thơ Ðường luật, rất chặt chẽ . Mỗi thiên có định số câu, mỗi câu có định số chữ, mỗi chữ có định tiếng bằng Trắc, và câu nào đối với câu nào, câu nào niêm với câu nào v. v... người làm thơ phải tuân thủ nghiêm chỉnh .



Luật thi lấy tám câu làm chính . Mỗi câu gồm có hoặc 5 chữ hoặc 7 chữ . Thơ 7 chữ 8 câu gọi là Thất Ngôn Bát Cú, hay là Thất Ngôn Luật Thi, gọi tắt là Thất Luật . Thơ 5 chữ 8 câu gọi là Ngũ Ngôn Bát Cú, hay Ngũ Ngôn Luật Thi, gọi tắt là Ngũ Luật.



Khi Luật thơ mới ra đời, các câu thơ trong bài không có tên. Ðường nhân chỉ gọi là câu NHẤT NHỊ, câu TAM TỨ, câu NGŨ LỤC, câu THẤT BÁT mà thôi . Ðến đời Tống (960 - 1297), Nghiêm vũ mới đặt tên : câu Nhất Nhị gọi là Khởi Liên hay Phát Cú (cũng gọi là Phát Ðoan), câu Tam Tứ gọi là Hạm Liên, câu Ngũ Lục gọi là Cảnh Liên, câu Thất bát gọi là Lạc Cú hay Kiết Cú . Qua đời Nguyên (1234 - 1368), Dương Tải đổi tên câu nhất nhị gọi là Phá Ðề và chia bài thơ làm 4 phần là Khởi (hay Khai), Thừa, Chuyển, Hiệp (*) và dạy : “Khởi như mở cửa thấy núi, đột ngột tranh vanh, hoặc như mây nhàn từ trong hố bay ra, nhẹ nhàng thong thả . Thừa như con rắn cỏ, sợi dây chuyền, chẳng đứt chẳng rời . Chuyển như sóng lớn muôn khoảnh, tất có nguồn cao đổ xuống . Hiệp như gió quanh khí tụ, ngậm chứa sâu thẳm . (Khởi như khai môn kiến sơn, đột ngột tranh vanh, hoặc như nhàn vân suất hát, khinh vật tự tại, Thừa xứ như thảo xà trắc tuyến, bất tức bất ly. Chuyển xứ như hồng ba vạn khoảnh, tất hữu cao nguyên. Hiệp xứ như phong hồi khí tụ, huyên vịnh hàm súc) . Vương Ngư Dương thời Thanh (1634 - 1711) nói rõ thêm rằng : Khởi, Thừa, Chuyển, Hiệp là phép chung trong việc làm văn. Trong một câu có khởi thừa chuyển hiệp của câu, trong một thủ có khởi thừa chuyển hiệp của thủ, trong 10 thủ có khởi thừa chuyển hiệp của 10 thủ, chớ không thể ấn định câu thứ mấy, đối thứ mấy là khởi thừa là chuyển là hiệp . Tức là Vương Ngư Dương không muốn người làm thơ phải ép mình trong sự phân chia cứng nhắc. Nhưng một khi luật được đem vào trường thi để làm khuôn thước chọn nhân tài, thì khuôn khổ bài thơ luật lại chặt chẽ thêm một bậc nữa . Tên của các câu thơ trong bài đều được thay đổi . Câu Thứ nhất gọi là Phá Ðề, câu nhì gọi là Thừa Ðề, cặp tam tứ gọi là Thích Thực hay Trạng, cặp ngũ lục gọi là Dẫn Luận hay Bồi Thấm, câu bảy gọi Thúc Kiết hay Chuyển, câu tám gọi là Hoàn Kiết hay Kết.



Những câu 1- (Ðề) và 7- 8 (Kết) không phải đối nhau. Chỉ có cặp 3 - 4 (Trạng) và cặp 5 - 6 (Luận) là phải đối nhau, cặp nào đối với cặp nấy, và phải niêm với nhau : câu 1 với câu 8, câu 2 với câu 3, câu 4 với câu 5, câu 6 với câu 7 . Ðó là luật nhất định .


Nhưng từ khởi thủy, thi nhân mới định vị cho các câu trong bài chớ chưa phân nhiệm cho từng câu. Nguồn thơ theo nguồn hứng mà đi, không cần phải sắp xếp ý nào trước ý nào sau, miễn sao cho nhất khí quán hạ, cho thủ vỹ tương ứng, miễn sao mạch lạc được liên tiếp, ý tứ đừng trùng điệp ... là hay. Khi đã dùng vào trường thi, thì nhiệm vụ của Ðề, Trạng, Luận, Kết đều được ấn định rõ ràng . Quy tắc phải được sĩ tử tuân thủ triệt để . Ðó là luật thơ cử nghiệp .



Về vấn đề này cũng như các vấn đề về luật bằng và Trắc trong câu, phép đối ngẫu ... tôi sẽ nói rõ trong khi bàn về Cú pháp .



Tôi xin nói tiếp về Chương .



Chương dùng ở đây là bài thơ, chớ không phải một bộ phận trong bài văn, lớn hơn tiết. Nói một chương tức là một thủ, và thủ cũng thường gọi là Thiên. Nhưng Thiên trong thơ Liên Hoàn, lại dùng để gọi cả nhóm hoặc 10 thủ, hoặc nhiều hơn hoặc ít hơn .Còn chỉ để chỉ từng bài một thì dùng tiếng Chương hay Thủ . Cùng một đề mục mà phải dùng nhiều bài nối nhau để diễn đạt cho hết ý , mà không theo lối liên hoàn (nối nhau bằng ý chớ không bằng lời) thì cả nhóm cũng gọi là Thiên, từng bài một thì gọi là Chương, là Thủ, như trong thơ liên hoàn . Song đó là danh xưng chớ không phải là quy tắc .



Ðể làm mẫu về chương pháp, xin dẫn một trong những bài thơ được truyền tụng, bài GỞI PHAN SÀO NAM của Trần Kế Xương :



Mấy năm vượt bể lại trèo non

Em hỏi thăm qua bác hãy còn

Mái tóc Giáp Thìn đà nhuốm tuyết

Ðiểm đầu Canh Tý chửa phai son

Vá trời gặp hội mây năm vẻ

Lấp bể ra công đá một hòn

Có phải như ai mà chẳng chết

Dang tay chống vững cột càn khôn



Bài thơ nhất khí quán hạ . Nêm luật chặt chẽ sít sao .



Nhưng đúng pháp thơ cử nghiệp, nghĩa là trạng, luận thật phân minh, thì bài VỊNH TRÂU GIÀ của Ðặng Ðức Siêu sau đây có thể dùng làm kiểu mẫu :



Một nắm xương khô một nắm da

Bao nhiêu cái ách cổ từng qua

Ðuôi cùn biếng vẫy Ðiền Ðan hỏa

Tai nặng buồn nghe Ninh Thích ca

Nương bóng rừng đào nơi lểu lảo

Nhìn gương cung quế thở phì phà

Bôi chuông nhớ thuở thân gần lụy

Ơn đội Tề vương mạng được tha .



Mới học làm thơ, các bạn nên học tập lối làm thơ cử trước . Tôi sẽ nói kỹ hơn sau khi đã lược giảng xong những điều thiết yếu . Và trong bước đầu của bạn, tôi chú trong đến thơ Thất Luật . Bởi kinh nghiệm bản thân cho thấy rằng một khi chân đã vững vàng trên đường thơ cử nghiệp rồi thì bước sang thơ tài tử rất dễ dàng, và hễ thơ bảy chữ đã thạo rồi thì thơ năm chữ không còn thấy bỡ ngỡ .



Và thơ Ngũ Ngôn cũng như thơ Thất Ngôn, đều lấy 8 câu làm luật . Nhưng phần đông thi nhân vẫn coi thơ Tứ Tuyệt là luật thi, bởi Tuyệt Cú là cắt luật thơ ra làm đôi mà lấy nửa. Phàm trong một bài tuyệt cú mà hai câu sau đối nhau, đó là cắt lấy 4 câu trước - cổ nhân gọi là tiền giải - của bài thơ luật; nếu hai câu trước đối nhau là cắt lấy phần hậu giải; bốn câu đều đối nhau là cắt lấy 4 câu giữa; còn toàn bài không có đối, là cắt lấy hai câu đầu và hai câu sau của bài thơ luật mà hợp lại . Số câu tuy có khác nhưng cách bố trí vẫn không khác nhau, cũng khởi, thừa, chuyển, hiệp , một bên từng cặp, một bên từng câu, mạch văn vẫn tiếp, khí văn vẫn nổi, không dứt không ngừng . Và tuy có 4 câu nhưng ý tứ phải sung mãn như 8 câu thì mới xứng danh là Tuyệt Cú, là Tứ Tuyệt. Bởi Tuyệt vừa có nghĩa là Tiệt (cắt) vừa có nghĩa là tuyệt diệu.



Xin cử mỗi loại một tuyệt để làm mẫu :



Hai câu đối nhau như bài DỆT CỬI của Lê Thánh Tông ;



Thấy dân rét mướt nghĩ mà thương

Vậy phải lên ngôi gỡ mối giường

Tay ngọc đẩy đưa thoi nhật nguyệt

Gót vàng dậm đạp máy âm dương



Hai câu đối nhau như bài SONG CHIỀU của TX :



Ngày trôi chậm chậm sông đưa lá

Thoi liệng xa xa én dệt mù

Mở rộng song thơ chờ ánh nguyệt

Nửa lòng xuân sắc nửa lòng thu



Bốn câu đều đối như bài TỨC CẢNH của Nguyễn Tư Giản làm lúc đi sứ sang Trung Hoa thời Tự Ðức :



Gió đưa dương liễu cành cành nguyệt

Khói tỏa ngô đồng khóm khóm sương

Thuyền mọn năm canh người Bích Hán

Ðịch đài một tiếng khách tầm dương



Bốn câu đều không có đối như bài MỜI TRẦU của Hồ Xuân Hương :



Quả cau nho nhỏ miếng trầu ôi


Này của Xuân Hương mới quệt rồi

Có phải duyên nhau thời thắm lại

Ðừng xanh như lá bạc như vôi .



Chỉ có 4 câu mà ý tứ phải đầy đủ, phải trọn vẹn thì bài thơ mới thật hoàn hảo . Bằng còn có thể thêm thắt, thì đó là một bài bát cú mới làm nửa chừng, Ví dụ bài DỆT CỬI của Lê Thánh Tông, đọc lên chúng ta cảm thấy thiêu thiếu như xem chưa hết lớp tuồng mà đã bị hạ màn . Do đó đời sau, nhiều người đã thêm hững câu sau thành một bài bát cú, như Tôn Thọ Tường là một :



Thấy dân rét mướt chạnh mà thương

Phải bước lên khung sửa mối giường

Tay ngọc lẹ đưa thoi nhật nguyệt

Gót son lần đạp máy âm dương

Xuân riêng hoa liễu canh dàn cuốn

Ý hiệp rồng mây chỉ vấn vương

Dâng gấm sân chầu mong có thuở

Sánh bường Tô Huệ bức văn chương .



Sửa đổi một vài chữ rồi thêm vào bốn câu thành một bài bát cú lời đẹp ý giàu, lại nói lên được chút tâm sự thầm kín .

Những bài Tứ Tuyệt có đối thường bị nối đuôi hoặc nối đầu, để ngầm bảo rằng chưa phải thơ Tuyệt Cú . Nhưng nếu ý tứ trong bài không được phong phú, thì loại không có đối cũng dễ biến thành thơ bát cú . Ví dụ bài VẤN NGUYỆT sau đây, tương truyền là của Hồ Xuân Hương :



Hỏi chị Hằng Nga đã mấy con

Cớ sao khi khuyết lại khi tròn

Ba mươi mồng một đi đâu vắng

Hay có tình riêng với nước non



Cụ Tú Nguyễn Khuê đã biến thành một bài bát cú rất được thưởng thức :



Dì Nguyệt mình ơi ! Tớ hỏi đon :

Cớ sao khi khuyết lại khi tròn

Hỏi con ngọc thố chừng bao tuổi

Hỏi chị Hằng Nga đã mấy con

Ðêm vắng cớ chi soi gác tía

Ngày xanh lại thẹn với vầng son

Ba mươi mồng một đi đâu vắng

Hay có tình riêng với nước non .



Bài VẤN NGUYỆT của cụ Tú cũng như bài DỆT CỬI của ông Tôn, tuy là thơ chắp nối, song theo đúng khuôn phép . Ý tứ trong toàn bài luôn luôn đi sát đầu đề . Những câu Ðề, Trạng, Luận, Kết, câu nào cương vị nấy, nhiệm vụ nấy, không chút sai lệch. Mạch thơ khí thơ, như nước suối cao, gió đồng rộng, không bị gián đoạn hay ngưng trệ . Nếu đi thi thì quan trường dù khắt khe đến đâu cũng không thể đánh hỏng .



Hai bài đó, nếu các bạn xem xét kỹ, sẽ giúp các bạn nắm vững thêm về Chương Pháp.

Con đường đưa đến diệu xứ của Thơ còn xa lắm .



Nhưng trong BẰNG HỮU KIM KÝ của Nguyễn Ðôn Phục có câu :



Ðất đã đắp cho nên núi, chín chày phải gắng công lao ;

Ðường dù đi đi dốc đến nơi, nghìn dặm chi nài khó nhọc .



Mong các bạn đừng chán nản



[Link đã ẩn, đăng nhập để được xem link. Hoặc click vào đây để đăng ký...]Quách Tấn

banglado is offline   Trả Lời Với Trích Dẫn
Kẻ Bồng bột đã cảm ơn banglado vì bài viết Ngớ ngẩn này ^_^!
unghoadaphu (12-03-2009)
Old 16-03-2009, 10:56 PM
  post #2
banglado
Dtt Member
 
ID: 15852
Tham gia: 22-02-2009
Giới tính: Hiden
Bài gởi: 77
Cảm ơn: 46
Được cảm ơn: 66 lần trong 39 bài viết
Default

QUÁCH TẤN
HƯƠNG VƯỜN CŨ
Nhà xuất bản hội nhà văn

Vơ vẩn tơ vương hồn Đại Việt,
Thanh tao thép luộc giọng Hàn Thuyên.
(Khuyết danh)
Đã đem máu nóng pha cùng mực
Há để lòng đen nhuộm cả vôi.
(Huỳnh Thúc Kháng)
Thân tặng:
- Quách Kiến Đạo
- Nguyễn Đồng
- Và các con các cháu.
Q.T.
Trong 25 năm nay tôi viết được bốn tập thi thoại:
- Trường Xuyên Thi Thoại
- Những Bức Thư Thơ
- Trong Vườn Hoa Thơ
- Câu Chuyện Thi Ca
Những Bức Thư Thơ chưa hoàn kết.
Trong Vườn Hoa Thơ cũng đã được an bài.
Nên xin thưa riêng về Câu Chuyện Thi Ca và Trường Xuyên Thi Thoại.
TRƯỜNG XUYÊN THI THOẠI viết tại Bình Định, thời Kháng Chiến chống Pháp, trong khoảng 1945-1947. Viết để giữ lòng khỏi bị xáo trộn theo những cuộc xáo trộn khắp chung quanh.
CÂU CHUYỆN THI CA viết tại Khánh Hòa, thời Hậu Chiến trong khoảng 1965-1967. Viết cho Đài Phát Thanh Nha Trang phổ biến mỗi chiều thứ bảy, theo lời yêu cầu ông bạn Quản Đốc, hầu giúp vui cho những thính giả chuộng văn chương.
Hai tập văn nhắm hai mục đích khác nhau và viết trong hai hoàn cảnh cũng khác nhau. Hai bên lại cách nhau đến hai mươi năm. Song tánh chất vẫn không khác, ý thú cũng không khác. Nên để cho gọn, tôi dồn hai tập lại làm một, và lấy tên, sau khi tu lý chỉnh tề, là: HƯƠNG VƯỜN CŨ
Gọi là HƯƠNG vì những thơ trích dẫn, đa số là hoa trong Vườn Thơ Việt Nam còn tồn tại sau bao nhiêu thử thách của thời gian.
Và gọi là CŨ vì hầu hết số thơ ấy là thơ Đường luật, và các tác giả phần đông là cổ nhân hoặc thời nhân đã tạ thế.
Tức là HƯƠNG VƯỜN CŨ nặng về thơ xưa, về thơ của các thi nhân đã thuộc về dĩ vãng.
Những bài thơ xưa tôi trích lục, lắm bài khác với nhiều sách hiện hành, hoặc vài ba câu, hoặc năm bảy chữ. Đó là tôi nghe truyền vậy nên chép vậy. Và chép vậy vì nhận thấy văn thông hơn ý thuận hơn các câu các chữ trong sách. Đôi khi thấy cần lắm mới biện bạch, còn thì chỉ ghi chú những chỗ dị thù.
Và ký tải thi nhân, tôi không chú trọng đến thời đại sau trước. Bởi viết thi thoại chớ không phải thi sử, nên chỉ tùy ngộ tùy nghi. Tôi cũng không đi sâu vào tâm hồn, bàn rộng về tài nghệ của từng vị. Vì đó là công việc của các nhà phê bình, các nhà khảo cứu. Tôi tự biết không đủ sức nên không dám cưu mang. Tôi chỉ làm con bướm lượn vườn hoa. Không bỏ qua một giống hoa nào, một đóa hoa nào đã vào mắt. Vì:
Hoa nào hoa lại không hương sắc
Một cánh hoa tươi một mảnh tình.
Nhưng chỉ dừng cánh lâu lâu những khi bị mật ngon quyến rũ. Và trải lòng hút mật cũng chỉ hút lấy vị chớ không hút tận cùng hút triệt để như ong.
Cho nên những nhận xét, những ý kiến tôi đưa ra không có gì mới lạ, sâu sắc. Tuy nhiên, nêu lên những gì, viết ra những gì, tôi đều suy kỹ nghĩ chín. Thời chiến cũng như thời bình, không bao giờ tôi dám khinh suất. Vì sợ người không bằng sợ lương tâm.
Song ca dao có câu:
Ngựa bốn chân leo đèo còn vấp,
Người đời sao khỏi gặp tai ba.
Gấm thêu năm bảy thức hoa,
Gấm còn mắc nhạp, huống nữa là duyên em.
Tôi, học thức không vững bằng chân ngựa leo đèo, khả năng không bì kịp tay hoa thêu gấm, thì cũng như người đời, cũng như duyên em, tránh sao cho khỏi vấp khỏi nhạp.
Hầu mong chữa sai lấp khuyết, kính xin bạn xa gần mở lượng Nữ Oa gởi cho xin nhiều nhiều đá.
Tương túc y quan nhi chỉnh bái
Phục kỳ tứ hải dĩ vi xuân.
Viết tại Nha Trang, ngày Phật Đản năm Tân Hợi
(9 tháng 5 năm 1971)
QUÁCH TẤN
banglado is offline   Trả Lời Với Trích Dẫn
Old 16-03-2009, 10:59 PM
  post #3
banglado
Dtt Member
 
ID: 15852
Tham gia: 22-02-2009
Giới tính: Hiden
Bài gởi: 77
Cảm ơn: 46
Được cảm ơn: 66 lần trong 39 bài viết
Default

CÁC SÁCH THAM KHẢO

o Tùy Viên Thi Thoại của Viên Mai.
o Thi Pháp nhập môn của Mân Đàm Du.
o Cựu Thi Lược Luận của Lương Xuân Phương.
o Văn Đàm Bảo Giám của Trần Trung Viên.
o Thi Văn Việt Nam và Chinh Phụ Ngâm Bị Khảo của Hoàng Xuân Hãn.
o Việt Nam Cổ Văn Học Sử của Nguyễn Đổng Chi.
o Úc Viên Thi Thoại của Đông Hồ.
o Trung Quốc Văn Học Sử của Nguyễn Hiến Lê.
o Giai Thoại Làng Nho và Chơi Chữ của Lãng Nhân.
o Tản Đà Thi Văn Tập của nhà xuất bản Á Châu.
o Hương Bình Thi Phẩm của Hoàng Trọng Thược.
o Thi Sỹ Nam Trung và Nhà Văn Hiện Đại của Vũ Ngọc Phan.
o Thi Nhân Việt Nam của Hoài Thanh.
o Quốc Văn Đời Tây Sơn của Hoàng Thúc Trâm.
o Nữ Lưu Văn Học Sử của Sở Cuồng.
o Nữ Thi Hào Việt Nam của Phan Xuân Độ.
o Hồn Thơ Đất Việt và Trần Quí Cáp của Lam Giang.
o Thơ Quốc Cấm của Thái Bạch.
o Danh Nhân Bình Định của Bùi Văn Lăng.
o Phép Làm Thơ của Diên Hương.
o Văn học Việt Nam của Phạm Văn Diêu.
o Chu Mạnh Trinh của Bùi Giáng.
o Việt Nam Văn Học Sử Yếu của Dương Quảng Hàm.
o Việt Nam Sử Lược của Trần Trọng Kim.
o Đại Việt Sử Ký Toàn Thư.
o Đại Nam Nhất Thống Chí.
o Tây Hồ Chí…



PHỤ LỤC
BÀI TỰA TẬP TRƯỜNG XUYÊN THI THOẠI

(Tập Trường Xuyên Thi Thoại sửa chữa và hoàn tất khoảng đầu năm Đinh Hợi (1947). Tập Hương Vườn Cũ cũng sửa chữa và hoàn tất khoảng đầu năm Tân Hợi (1971). Và hai bài tựa cũng đều viết vaò ngày lễ Phật Đản. Một sự trùng hợp lý thú. Trường Xuyên Thi Thoại đã nhập vào Hương Vườn Cũ, nên chép lại bài tựa để làm duyên)
Đương khi nước nhà lắm việc, kẻ làm trai ai cũng ra góp sức góp công. Riêng tôi lực yếu tài ương, đành lui vào thôn xa nương ngày tháng.
Vườn dâu xanh lá, ruột con tằm những mong kéo dài mối tơ. Song ngoài trời hết mống liền giông, chín khúc khó vương thành kén.

Chim kêu hoa rụng, lắm lúc thật là buồn! Nước biếc non xanh, ngắm lâu cũng thành chán! Bắt chước Trần Hy Di ngủ trăm ngày một giấc, “tỉnh ra hỏi đã thái bình chưa”. Nhưng mắt luyện chưa quen, nhắm lâu cay khó chịu. Lại học Túy Ngâm Tiên Sinh, ngâm say say ngâm, mờ mờ mịt mịt, để cho “mộng thân thế, vân phú quí, mộ tịch thiên địa, thuấn tức bách niên”. Nhưng rượu vốn không hay, uống nhiều đắng khó chịu.

Tìm không còn thú chi hơn nữa, bèn đem câu chuyện Thơ ra viết chơi. Riêng hềm sách thiếu bạn thiếu, nương vào đâu cho khỏi lỗi Bắc Nam?! Nhớ câu “mặt giấy bút sa…”, đã viết lại thôi viết. Nhưng rồi nghĩ lại:
- Chuyện thế gian chắc đâu là phải là trái. Công đây: Tội đó. Cần chi. Huống hồ chỉ để mà chơi thì phải đấy cũng không phải là công, mà trái đấy cũng không ai bắt tội.

Thế là: Tơ vò tìm thấy mối, đường xa gặp được xe. Lòng trút e dè, bút nhẹ cân nhắc. Hứng khi nào viết khi nấy, không hạn không kỳ. Thích thế nào, viết thế ấy, bỏ phép bỏ tắc. Đọc một mình, ngâm một chắc, sổ sổ khuyên khuyên. Vỗ đôi vế nhịp đôi đùi, hỉ hỉ hả hả:

Vị tất ngộ nhân thiên tải hạ
Chỉ năng ngu ngã bách niên trung

Tri âm ai nhắn nhe cùng
Đèn xanh một ngọn trống thùng năm canh

Viết tại cố hương Trường Định ngày Phật Đản năm Đinh Hợi (1947)
Quách Tấn

1.
Làm thơ là một mình uống rượu trong hoa.
Viết thi thoại là ngồi buồn mở tiệc đãi khách.

Tiệc tuy không thể sánh cùng Trần Tư Vương quán Bình Lạc, song khác hẳn không đến nỗi cửa Dương Lễ, một chàng Lưu.
Khách đã trên hai thì sở thích không phải một.
Tiết canh vịt dẫu rằng ngon, song không phải món ăn hiếm có. Thế mà trong bữa tiệc linh đình, thiếu tiết canh vịt, Tản Đà tiên sinh đành ngồi nhắm rượu suông. Hải sâm nấu kiểu Tàu chẳng những ngon mà còn tuyệt bổ. Thế mà Hàn Mặc Tử nể lòng bạn, nếm một thìa con, ba hôm sau mình còn rởn ốc! Thịt cầy người đất Bắc, sầu riêng người miền Nam… thế vị tân cam, món quí không hẳn là món thích. Đã có lòng với khách, liệu sao cho khỏi có kẻ ôm bụng ra về không.

Có cá ám vịt quay…, cũng phải có bầu tượng dưa chuột. Và dĩa bắp chuối luộc, bát canh rau tàn ô, thường vớt những bạn ớn những chả phụng nem công trong nửa bữa. Còn dưa giá chua, muối đậu phụng lại giúp người cữ mặn cùng vào tiệc chia vui.

Cho nên chủ nhân lo sắm sửa món ăn, món ăn được cứ sắm. Chỉ sợ thiếu, không sợ thừa. Miễn sao mâm bát dọn lên đừng bừa bãi những món thiu úng.
Tùy Viên Thi Thoại có câu:
Thanh bằng cung chủy đô tu túy
Vị tẫn toan hà chỉ yến tiên

Nghĩa là:

Tiếng dù chủy dù cung miễn sao dòn là thích,
Vị cả chua cả mặn cốt cho tươi là ngon.

Xin mượn làm khẩu hiệu, khi lo sắm dọn bữa tiệc thơ đãi bà con.
Nắng mưa một tấm lòng son
Đợi người chung nước chung non chung tình.
o0o

2.
Thơ thất luật, tức thơ Thất Ngôn Bát Cú, gọi là thơ Đường Luật, vì luật thơ do các thi nhân đời nhà Đường (thế kỷ thứ IX), đặt ra.

Viên Tử Tài, tác giả Tùy Viên Thi Thọai, nói rằng:
- Thơ Thất Luật đời Thịnh Đường ví như quốc gia mới sáng kiến qui mô, thọ lập giá tử. Ơ bên trong, những động phòng khúc thất, những cửa võng bao lơn… chưa tề bị. Đến đời Trung Đường, Vãn Đường mới thật lòng chỉnh túc. Sang đời Tống, đời Nguyên, đời Minh…, càng xuất càng kỳ.

Luật thơ Đường dung nhập sang Việt Nam từ đời nào thật không rõ, nhưng được áp dụng trong làng thơ Quốc âm từ đời nhà Trần (thế kỷ thứ XIII) do Hàn Thuyên khởi xướng. Cho nên thơ Quốc âm làm theo thể thơ Đường luật gọi là thơ Hàn luật, và Hàn Thuyên được suy tôn làm thủy tổ thơ Nôm.

Thơ Hàn luật sản xuất đời Trần còn ở trong vòng phôi thai. Thời Lê Mạc là thời phát đạt. Khoảng cuối đời Lê sang đời Tây Sơn qua đời Nguyễn, là thời toàn thịnh. Những vần thơ kiệt tác có thể so sánh cùng thơ Trung Hoa, đều sản xuất trong thời kỳ nầy.

Có thể ví thơ Hàn Luật với ngôi nhà Việt Nam cất theo kiểu Trung Quốc: Ba gian, hai chái, đuôi mái cong cong. Và trải bao nhiêu cuộc hưng vong, ngôi nhà vẫn không thay đổi kiểu.

Khi ngôi nhà mới lạc thành thì trong ba gian rộng chỉ kê bên trong một án thờ bày lơ thơ bộ ngũ sự bằng trắc, một bộ phản gõ để trần và bên ngoài một bộ tràng kỷ chân tiện. Để tiếp khách chủ nhân là một nhà nho thuần phác, khăn áo màu thâm, dép mang quai dọc. Khách vào nhà chơi, mời xơi chung trà nóng, miếng trầu tươi. Ít nói ít cười khách muốn ở chơi lâu, không ngại, muốn ra về ngay, không cầm. Tự nhiên giản dị…
Qua đời nhà Hồ, đời Hậu Trần, bộ ngũ sự trắc được thay thế bằng bộ ngũ sự đồng. Phản gõ được trải chiếu hoa, và trên vách phía đông phía tây, treo đôi bức tranh thủy mặc. Khách vào chơi thấy có phần vui ấm hơn xưa.

Sang thời phát đạt, nhất là từ đời Lê Hồng Đức đến đời Lê Cảnh Hưng, thì trong nhà sắm thêm nhiều đồ trần thiết. Bên những bức tranh tùng trúc, treo thêm đôi ba bức họa phụng hoàng đậu cành ngô, rồng xanh cuốn mây trắng… và cạnh chiếc lư đồng đánh bóng, đặt thêm bình hoa phía đông, cỗ bồng quả phía tây, sắc tươi hương thắm. Còn chủ nhân, vẫn nhà nho thuần phác ấy, vẫn dáng người bình đạm ấy, song khăn áo có phần chải chuốt hơn, cách đón mời có phần vồn vã nồng nàn hơn. Ngồi hầu chuyện cùng chủ nhân khách thấy thích thú hơn xưa, và lúc ra về còn đem theo ít nhiều hương vị.

Rồi lần lần cách trang trí đổi mới. Án chạm thay án đơn, ghế bành thay trường kỷ; hoành sơn chen liễn cẩn, bình sứ cạnh trắp ngà; buồng trong buông rèm hương, lối đi trồng hoa thắm… nhà trong nhà ngoài đông đầy con cháu, trang nghiêm đài các có, phong nhã hào hoa có, thanh đạm khoái dật có, mà cuồng phóng kiêu bạc cũng có… Lại có cả mỹ nhân, đoan trang thùy mị, kẻ lo dệt gấm, người lo tỉa hoa, cũng có cả tài nữ, nhí nhảnh nghịch ngợm, hoặc hé mành cười duyên, hoặc lấy hoa quả ném khách… còn nhà nho ngày xưa, nằm nghỉ nơi hậu đường, thỉnh thoảng mới bước ra vườn hoa nhà sách trong giây lát.

Cảnh nhà lúc bấy giờ kể cũng thạnh vượng.
Nhưng rồi kinh thành Huế thất thủ, quân Pháp đặt nền đô hộ lên đất nước Việt Nam, nhà thơ Hàn Luật cũng theo quốc vận mà suy lần.
Đến nay ngoảnh lại mà xem thì chẳng khác lầu ca khi tiệc mãn.

Tiệc mãn lầu ca lạnh ánh sương
Bâng khuâng tay ngọc xếp nghê thường.

Tình cảnh ấy không riêng gì thơ Hàn Luật bên Việt Nam, mà chung cả thơ Đường Luật bên Trung Quốc.

Có sanh thì có diệt. Đó là lẽ tất nhiên.

Nhưng diệt là diệt bên hình thức, tức là diệt thể thơ, chớ bên tinh thần, tức là hồn thơ của dân tộc, không bao giờ diệt hết.

Bởi thể thơ là tướng, hồn thơ là tánh.
Tướng tùy duyên, tánh bất biến.

Đã hiểu rõ diệu lý rồi thì không còn bận tâm đến sự thịnh suy tiêu trưởng.
Ra về chớ tiếc đêm xuân lụn
Vườn cũ nghìn hoa đợi bóng dương.
o0o
( còn nữa )
Sưu tầm từ Internet

thay đổi nội dung bởi: banglado, 16-03-2009 lúc 11:06 PM.
banglado is offline   Trả Lời Với Trích Dẫn
Kẻ Bồng bột đã cảm ơn banglado vì bài viết Ngớ ngẩn này ^_^!
unghoadaphu (13-08-2013)
Trả lời

DU HOC TRUNG QUOC Bookmarks DU HOC TRUNG QUOC

Ðiều Chỉnh

Quuyền Hạn Của Bạn
You may not post new threads
You may not post replies
You may not post attachments
You may not edit your posts

BB code is Mở
Smilies đang Mở
[IMG] đang Mở
HTML đang Tắt
Chuyển đến

Chủ đề tương tự
Ðề tài Người Gởi Chuyên mục Trả lời Bài mới gởi
Dịch tên người Việt--->Trung Jessie27 Dịch Việt -> Trung 3678 09-08-2014 07:30 AM
Để học tốt tiếng Trung và Những điều cần lưu ý khi học tiếng Trung heo con Kinh nghiệm học tiếng Trung 322 20-09-2013 10:56 AM
Tự học hán ngữ hiện đại-Lê Anh Minh cuunon0811 Trình độ Sơ cấp 19 28-08-2010 10:09 PM
中国历史文化名镇-Lịch sử văn hóa danh trấn Trung Quốc DIEM MA Danh lam thắng cảnh - Du lịch Trung Quốc 4 11-08-2010 05:13 PM
Kiến trúc Pháp tại Hà Nội ongnon Kiến Trúc 0 09-07-2008 11:46 AM


Múi giờ GMT. Hiện tại là 03:28 PM.